Les villes invisibles

Lâu lâu cố gắng dịch một vài thứ mình thích. Hiện nay đang rất muốn dịch Les villes Invisibles, nhưng khó quá. Ngày nào dịch được thì dịch vậy. Những đoạn  in nghiêng màu xám là mình nói nhảm.

Những thành phố vô hình

_ Italo Calvino (1923 – 1985) _

_ Bản dịch tiếng Pháp của Jean Thibaudeau _

———————————–

Giới thiệu sau lưng cuốn sách:

“Ở những miền đất khác nhau, nhiều người đàn ông đều mơ cùng giấc mơ về một người đàn bà chạy rông trong một thành phố vô danh. Tỉnh dậy, họ mải miết đi tìm và rồi cuối cùng tụ về môt chốn. Họ quyết định ở đó xây nên thành phố trong giấc mơ mình, Zobéide.Italo Calvino mơ Marco Polo kể cho mình nghe về những chuyến viễn du. Dorothée, Isaura, Octavie, Phyllide: mỗi thành phố mang tên của một người đàn bà bí ẩn. Những thành phố không thể quên, dù chẳng bao giờ tìm thấy được trên bất cứ bản đồ nào”

————————————

Thành phố và nỗi nhớ. 1.

Từ đó đi thêm ba ngày về hướng đông ta sẽ đặt chân đến Diomira, thành phố với sáu mươi mái vòm bằng bạc, tất cả tượng đồng của các vị thần, những con đường lát thiếc, một nhà hát thủy tinh, một con gà bằng vàng sáng sáng gáy vang trên đỉnh tháp. Tất cả vẻ đẹp này, lữ khách đều đã bắt gặp đâu đó trong các thành phố khác. Nhưng điều đặc biệt của nơi đây là nếu ta lạc bước vào đó một tối tháng chín, khi ngày ngắn lại và những ngọn đèn đủ màu cùng tỏa sáng xuống cổng các tiệm khoai chiên, rồi từ khoảng sân nào đó vọng ra tiếng đàn bà hét vang “Hù”, ta bất chợt sẽ cảm thấy ghen tỵ với những ai chính vào  khoảnh khắc ấy nghĩ rằng đã được trải qua một  tối như thế và lần đó – đã thật hạnh phúc.

Có lẽ mỗi người đều có một thành phố trong ký ức của mình. Những ngọn đèn đủ màu của Diomira làm tôi chợt nhớ đến một buổi tối ở Hội An, khi cùng cô bạn lang thang trên những con đường nhỏ xinh vắng lặng và chụp linh tinh hình những cánh cửa gỗ cổ xưa dưới ánh đèn leo lét. Nhưng có lẽ tất cả những ánh đèn trong nỗi nhớ đều sáng hơn bình thường, nên bây giờ  trong một căn phòng nhỏ tôi vẫn mơ hồ mường tượng được sự bình yên của những bước chân tối hôm đó.

Thành phố và nỗi nhớ. 2.

Bất chợt trong lòng gã đàn ông mải miết ruổi ngựa qua những vùng đất hoang hóa ấy bỗng nảy lên khao khát về một thành phố. Cuối cùng, gã dừng bước ở Isidora, thành phố nơi lâu đài được xây với những cầu thang xoắn ốc khảm bằng vỏ xà cừ đại dương, nơi mỗi chiếc kính và đàn violon làm ra đều tuân theo nhiều quy ước nghệ thuật, nơi kẻ khách lạ khi phân vân giữa hai người đàn bà thì sẽ luôn gặp được người thứ ba, nơi những trận đá gà biến thành cuộc chiến đẫm máu dưới tay mấy kẻ cá độ. Đúng như tất cả những gì gã nghĩ ra khi khát khao về một thành phố. Isidora, vì lẽ đó, là thành phố mơ ước của gã: chỉ có một xíu khác biệt. Trong những giấc mơ kia, thành phố – bao gồm cả gã nữa, đều trẻ; nhưng giờ khi đến được Isidora gã đã luống tuổi rồi. Nơi đó có một bước tường nhỏ để người già nhìn tuổi trẻ lướt qua; chính gã cũng đang ngồi đó, lẫn trong bao người khác. Những khát khao đã thành nỗi nhớ.

Có một người đã hỏi, trên trang web nào đó, rằng trong cuốn sách này của Italo, bạn thích thành phố nào nhất. Chưa đọc hết, nên có lẽ chưa rõ được, nhưng Isidora, ít nhất, cũng là một trong những thành phố mình thích nhất. “Những khát khao đã thành nỗi nhớ”, rất thích câu này, mặc dù là mình dịch bóp méo tí, đúng ra phải là “Những khát khao giờ đã thành ký ức”. Cũng vì nó mà từ đây về sau, tất cả “Thành phố và ký ức” đều đổi làm “Thành phố và nỗi nhớ”. Có bao nhiêu lần, đạt được điều mình mong muốn, chỉ để nhận ra rằng giờ nó đã không còn là thứ mình muốn, mình cần và mình ao ước nữa. Hoặc giả vì đó từng là một điều rất đẹp đẽ, chỉ là bây giờ chẳng còn hợp nữa thôi.

Thành phố và khát khao. 1.

Chúng ta có thể nói 2 điều về thành phố Dorothée:  rằng nơi đó có bốn ngọn tháp nhôm vươn cao, bảy cánh cửa ốp tường mở ra cầu treo bắc qua con hào, từ chốn đó dòng nước xanh ngắt đổ  vào thấm đẫm bốn con kênh – cắt ngang thành phố để rồi chia chốn này thành chín quận, mỗi quận ba trăm mái nhà và bảy trăm ống khói; và rằng, chính nhờ đây mà các cô con gái quận này lấy những chàng trai quận bên cạnh, rồi gia đình hai bên trao đổi lẫn nhau những món hàng mình có, trên hết là: kẹo cam, trứng cá tầm, bản đồ sao, thạch anh tím; từ đây bằng những tính toán cần thiết người ta sẽ biết được mình muốn gì ở thành phố này, quá khứ, hiện tại và cả tương lai; hay nói như người phu lạc đà dẫn đường cho tôi ngày hôm đó: “Tôi đã đến đây vào những ngày đầu tiên tuổi trẻ, một sớm nào đó, khi dòng người rộn rã tấp nập khắp nẻo đường kéo về chợ, những người đàn bà với hàm răng đẹp nhìn xoáy thẳng vào tận mắt mình, ba tên lính chen chân trên bục chơi một bản kèn clarinette, khắp xung quanh những bánh xe xoay xoay và bay bay trong gió là những tấm áp phích màu. Cho đến tận lúc đó, tôi chỉ biết đến những sa mạc và con đường cửu vạn. Buổi sáng hôm ấy, ở Dorothée, tôi đã hiểu ra rằng cuộc đời chẳng bao giờ chờ đợi mình gì cả. Nhiều năm về sau, ánh mắt tôi chỉ đau đáu hướng về những dặm dài sa mạc và đường cửu vạn; nhưng giờ đây tôi biết đó chỉ là một trong vô vàn con đường mở ra trước mắt tôi sáng hôm đấy, thảy đều dẫn về Dorothée”


Thành phố và nỗi nhớ. 3.

Thật là đau khổ, thưa Hốt Tất Liệt Đại hãn, khi tôi phải ép mình tả lại cho ngài thành phố Zaire của những pháo đài cao vót. Tôi có thể kể tường tận với ngài cầu thang trên đường đó có bao nhiêu bậc, cửa kia có kiểu mái vòm gì, hay những mái ngói nơi này lợp bằng lá tôn chi; nhưng dù có nói đến mức đó, tôi vẫn thấy mình chẳng tả được gì cho ngài. Những thứ làm nên thành phố này, không phải bản thân chúng, mà phải là mối liên hệ giữa những số liệu khoảng cách với từng khoảnh khắc sự kiện từng diễn ra ở đó: chiều cao từ ngọn đèn đường đến đất, gợi nhớ đến đôi chân đung đưa của tên tử tù bị treo cổ; sợi dây vắt vẻo từ ngọn đèn đến lan can trước mặt, nhắc về những đường diềm trang trí bước đường đội diễu hành đám cưới nữ hoàng; độ cao của lan can này nhắc nhớ cú nhảy của gã đàn ông ngoại tình sâu vào chốn bình minh; độ nghiêng của một máng xối, thấp thoáng chuyện con mèo bước qua đó để phóc vào cửa sổ; đường ngắm của  khẩu thần công trên chiến thuyền đột ngột hiện ra từ sau mũi đất, nhắc về trái đạn cối phá hủy máng xối; những lỗ rách bươm trên lưới đánh cá, gợi nhớ ba lão già, ngồi vá lưới trên kè và kể đến lần thứ một trăm câu chuyện về khẩu pháo thuyền của tên tử tù, kẻ vốn được đồn đại là đứa con ngoài giá thú của nữ hoàng, bị bỏ rơi trong đống tã lót ngày ấy chính tại nơi bờ kè này.

Những con sóng cuộn về bằng kỷ niệm, thành phố thấm chúng lại như bọt biển ngấm nước,  rồi phồng lên. Mô tả như vậy về Zaire làm ta tưởng nơi này hôm nay biết tất về một Zaire trong quá khứ. Nhưng thành phố không kể lại quá khứ chính mình, nó chỉ sở hữu quá khứ ấy như người ta sở hữu những đường chỉ tay, in dấu lại trong từng góc đường, trong khung lưới của sổ, trên những tay vịn cầu thang, những cột thu lôi, những chiếc cán cờ, trên tất cả mảnh vỡ nào còn ghi dấu vết xước, dấu răng, vết chém, và những dấu phẩy.

Thành phố và khát khao. 2.

Sau ba ngày đường, nhắm hướng chính ngọ, sẽ tới được Anastasie, thành phố tắm mình trong những kênh rạch chằng chịt và trên bầu trời toàn  diều bay lượn. Giờ tôi phải liệt kê tất cả hàng hóa có thể mua được ở đó với giá rất hời – đá mã não, mã não dạng dài, ngọc đa sắc xanh lục, và các loại ngọc đa sắc khác; tán tụng loại thịt chim trĩ hoàng kim được nướng trên lửa đốt từ gỗ anh đào khô, phía trên rắc thật nhiều bột oregano; nói về những phụ nữ tôi đã trông thấy tắm trong bể nước vườn nhà và đôi khi – nghe đồn- còn mời khách qua đường vào cởi quần áo với mình, rồi cũng nô giỡn trong nước. Nhưng khi kể tất cả những chuyện đó, tôi không nói lên được cái hồn thật sự của thành phố: bởi vì, dù những miêu tả về Anatasie chắc chắn là đánh thức khao khát của hết người này đến người khác, làm cho họ khó thở, và những người một sáng đẹp xinh nào đó nhận ra mình đang ở giữa Anastasie sẽ nhận ra … những khát khao thảy đều trỗi dậy và mình đang bị hãm giữa chúng. Thành phố có vẻ như một chỉnh thể thống nhất mà trong đó, sẽ không có khát khao nào bị bỏ lỡ, và bạn, bạn cũng thành một phần tử ở đó, và bởi vì chính thành phố đang tận hưởng những điều bạn không thể tận hưởng, nên bạn chỉ có thể làm quen với khát khao đó rồi tự hài lòng. Đó chính là quyền lực, một số người bảo tiêu cực, một số kẻ bảo tích cực, của Anatasie, thành phố phỉnh phờ: nếu bạn phải bỏ tám giờ một ngày mài dũa những viên mã não ngắn dài, ngọc đa sắc lục bảo, nỗi thống khổ của bạn tạo hình cho những khát khao  để chúng có thể thành hình những khao khát, và bạn tin rằng mình đang được tận hưởng cả Anastasie trong khi thực tế bạn chỉ  làm nô lệ cho nó.

Thành phố và những dấu hiệu. 1.

Gã lang thang nhiều ngày giữa cỏ cây và sỏi đá. Mắt thi thoảng dừng ở đâu đó, chính là khi bắt gặp được một dấu hiệu gì: dấu chân trên cát gợi ý  đường đi của hổ, đầm lầy báo hiệu suối nguồn và  những đóa cẩm quỳ nhắc đông qua. Tất cả những thứ khác thảy  đều câm lặng và có thể thay thế cho nhau được, cỏ cây và sỏi đá cũng chỉ là sỏi đá cỏ cây.

Cuối cùng, hành trình cũng dẫn về Tamara. Gã đi xuyên qua những con đường chi chít bảng chỉ dẫn lô nhô. Trước mắt chẳng có vật thật mà chỉ đầy những thù hình có ý nghĩa tượng trưng: này  cái kẹp to – nghĩa là nhà của thợ nhổ răng, ồ cái bình – ngụ  ý quán rượu, những mũi kích báo hiệu chỗ mấy tay vệ sĩ, còn chiếc cân cải xinh kia tức chỉ gian hàng trái cây rau củ. Tượng đài và huy hiệu khảm hình sư tử, cá heo cùng những tòa tháp và vài ngôi sao: biểu tượng cho  thứ gì đó – mà  ai biết được là thứ chi chi- chỉ  biết chúng được tượng trưng bằng sư tử, cá heo, tòa tháp và cả ngôi sao. Một vài biển khác là  biển cấm – không được cho xe bò vào đường hẻm, không tiểu tiện vào góc nhà hoặc câu cá trên đỉnh cầu. Mà cũng có thể là biển cho phép – được thả ngựa vằn uống nước, được chơi banh, được hỏa thiêu xác cha mẹ. Ở cổng đền ta có thể thấy những bức tượng thánh, tất cả đều được tạc với đúng tín vật của mình: một chiếc sừng phồn thực, một chiếc đồng hồ cát, hoặc một con sứa, để các tín đồ có thể nhận ra ngay và thầy tu thì cũng dễ dàng gọi được tên. Những công trình nào không có biển hướng dẫn hay hình vẽ gì cả thì bản thân kiến trúc hoặc vị trí của nó trong bản đồ thành phố cũng  tự nói lên chức năng của mình rồi: lâu đài hoàng gia, nhà tù, kho bạc, trường toán Pythagore, hay nhà thổ. Ngay cả hàng hóa trên kệ của thương nhân cũng không phải chỉ niêm yết giá trị tiền bạc thôi mà còn biểu trưng cho nhiều thứ khác: mảnh vải thêu đeo trán cho thấy sự tao nhã, chiếc kiệu vàng là quyền lực, bộ sách của Averroès* ý chỉ sự thông tuệ, còn chuỗi đeo cổ răng nanh là biểu thị khoái lạc. Lướt một ánh nhìn qua những con đường, cảm giác như mình đang lướt qua từng trang sách viết: thành phố đã nói thay tất cả những gì lẽ ra tự ta phải suy nghĩ, ta chỉ cần lập lại theo đúng những lý giải của nó. Và thế là ta nghĩ mình đã thăm được Tamara rồi đó – mặc dù thật ra chỉ  ghi nhớ được đúng những cái tên mà thành phố dùng để định hình chính nó và từng ngõ ngách bên trong.

Dưới sâu xa tầng tầng lớp lớp biểu tượng đó, thực chất,  thành phố  là thế nào, nó chứa gì và che đậy những chi, lữ khách rời khỏi Tamara mà vẫn không cách nào hiểu được. Ngoài kia đến tận xa thẳm chân trời, một miền đất trống trải ra dưới bầu trời mây trắng lững lờ trôi. Tình cờ thôi, gió khẽ đẩy đưa rồi  mây thành hình, lữ khách lại bắt đầu liên tưởng những hình hài nào đó: một cánh buồm, một bàn tay, một con voi …

* Averroès: Triết gia, nhà toán học, thầy thuốc hồi giáo lôĩ lạc thế kỷ 12.

Càng đọc chương này về cuối càng thấy giống tả một người đàn bà. Đàn ông thấy được họ khi họ ra hiệu, làm dấu, giải thích, nhưng chẳng bao giờ  hiểu được sâu thẳm trong lòng họ đang suy nghĩ gì.  Rồi trên những dặm đường dài… đọc dấu hiệu đã trở thành một thói quen trong vô thức.

Thành phố và những khát khao. 5.

Từ chỗ đó, đi thêm bảy ngày bảy đêm, ta sẽ đến được Zobéide – Bạch Thành – thành phố trải mình dưới ánh trăng, với những con đường ngoằn ngoèo như chỉ cuộn tròn quanh một cuộn len. Người ta vẫn thường kể về sự tích hình thành nơi đây: những gã đàn ông từ nhiền miền đất khác nhau mơ cùng một giấc mơ giống hệt, mơ về một người đàn bà chạy rông trong đêm khuya mịt mờ giữa thành phố lạ, này tấm lưng ấy, này làn tóc xõa ấy, nàng lõa lồ. Bọn gã mơ thấy mình chạy rượt theo nàng. Đến cuối cùng, đều mất dấu. Tỉnh dậy, tất cả bắt đầu cất bước tìm về thành phố kia, mải miết mải miết kiếm tìm, để rồi –  vẫn chẳng tìm được chốn đó, mà lại cùng tụ về chung một chỗ; vậy là bọn gã quyết định từ nơi ấy xây dựng nên thành phố trong giấc mơ mình. Mỗi kẻ tự dựng lại một con đường theo hành trình rượt đuổi kia; và rồi ở chốn mất dấu người đàn bà lạc loài ấy, lại xây nên một khoảng không, một bức từơng khác hẳn trong mơ, để nàng không còn lẩn trốn được.

Những kẻ góp phần tạo nên hình hài thành Zobéide ấy kiến tạo nó trong nỗi mong chờ rằng, đêm nào đó, quang cảnh kia sẽ lập lại một lần. Chẳng có ai trong số đó, dù khi mơ, hay lúc tỉnh táo, được thấy lại người đàn bà ấy dù chỉ một lần. Những con đường vẫn mãi là con đường họ đi làm hàng ngày, chẳng còn chút dấu tích liên quan nào với cuộc rượt đuổi trong mơ. Những điều lẽ ra tồn tại ở đó đã bị lãng quên, từ lâu, rất lâu rồi.

Rồi những gã đàn ông từ những miền đất khác lại kéo tới, với cùng một giấc mơ như thế, để nhận ra ở Zobéide thấp thoáng những con đường của giấc mơ mình, lại ra tay điều chỉnh một hai mái vòm, vài đoạn cầu thang cho giống hơn với cuộc rượt đuổi người đàn bà ấy, và cuối cùng, tại nơi mà nàng biến mất dĩ nhiên sẽ không còn cái lối  mà nàng vốn dùng để chạy thoát.

Những kẻ đầu tiên đặt chân đến không thể hiểu nổi rốt cuộc cái gì đã lôi kéo nhiều người như vậy đến Zobéide, thành phố vốn chẳng chút gì duyên dáng, một cái bẫy chuột.

5 thoughts on “Les villes invisibles

  1. lâu lâu chạy dzô lại có thim một đoạn để cho mình đọc :x
    đọc một lần rồi lại thêm một lần, chưa hiểu hết bao nhiêu nhưng mà vẫn cứ thấy thích :x

    chị ơi dịch tiếp em đọccccccc !!!!!!
    hehe

  2. Ờ, thiệc ra chị cũng muốn chú thích thêm dưới mỗi đoạn dịch, tại vì nhiều khi chị dịch nó cũng …. “hay” quá, sợ người ta đọc rối teng beng. Dưng mà … lười quá bay ơi.

  3. Í thim một đoạn nè : x
    dzờ em phải đi lao nhà hem đọc được T_T
    tối đọc : x
    em thích mấy cái phần chị viết thêm lắm á : D
    mà không phải chị dịch khó hỉu đâu : P
    tại em hem hỉu thao : ))

  4. Lâu quá ko có đọc hia hia
    em mới đọc xong cuốn Nếu một đêm đông có người lữ khách, thấy bác tác dzả quá sức là man chá :))
    để dành đây mai mốt đọc típ
    hia hia
    dịch nguyên cún lun đi T_T

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s